Giới thiệu – Nền dân trị Mỹ

Tác giả của bộ sách đồ sộ Nền dân trị Mỹ (1835/40) – được Phạm Toàn dày công dịch sang tiếng Việt – là một khuôn mặt lạ thường. Ở Mỹ, từ lâu, ông đã trở thành một huyền thoại, một thần tượng, vì được xem là đã hiểu nước Mỹ hơn cả người Mỹ, và tác phẩm này của ông – bên cạnh bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ – được tôn thờ gần như là một thứ “tôn giáo chính trị”. Vào đầu thế kỷ XXI, vẫn còn có rất nhiều trí thức Mỹ tự nhận là môn đồ của ông: “We are all Tocquevillians now!”[1] Ở châu Âu, tuy tên tuổi và tác phẩm của ông ít phổ biến hơn so với ở Mỹ, ông vẫn thường được khen là “Montesquieu của thế kỷ XIX”, và trong mọi cuộc thảo luận về chính trị học hiện đại, ông vẫn được xem trọng bên cạnh các tên tuổi lớn của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX: John Stuart Mill, Karl Marx, Auguste Comte, Max Weber… Người ta không chỉ kinh ngạc về tài “tiên tri” địa-chính trị của ông: một trăm năm trước khi bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh, ông đã tiên đoán sự đối đầu “phân cực” giữa hai siêu cường Nga-Mỹ[2]. Nhiều người còn nhìn ông như một hiện tượng khá nghịch lý: một nhà quý tộc lại đi tán thành dân chủ; một người Pháp lại quan tâm và khen ngợi người Mỹ; một trí thức tự do, không có tín ngưỡng lại nhấn mạnh sự cần thiết của tôn giáo… Nhưng, đó chỉ mới là cảm tưởng ban đầu. Đi sâu tìm hiểu, ta càng ngạc nhiên về tầm nhìn xa của ông. Có thể nói, với Tocqueville, việc nghiên cứu và trầm tư về nền dân trị đã thực sự bước vào một giai đoạn mới. Trong bối cảnh rối ren và hoang mang của châu Âu đương thời, ông đề ra một luận điểm dũng cảm: “Les jeux sont faits” (Ván bài đã ngã ngũ), thắng lợi của nền dân trị là không có gì có thể ngăn cản được và sớm muộn sẽ là chung quyết và bất khả vãn hồi. Vấn đề còn lại là phải tìm hiểu, phân tích, suy tưởng và dự báo về mọi khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực của nó. Nhận thức ấy là kết quả thu hoạch được sau chuyến “du khảo” của ông ở Mỹ, được ông tổng kết trong tác phẩm đầu tay này, một tác phẩm đã nâng ông lên hàng ngũ các nhà kinh điển của khoa chính trị học.   Read more…

Phản biện xã hội

Nguyễn Trần BạtChủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group
Tạp chí The Journal of Global Issues & Solutions năm 2007 của Nhà xuất bản “Bibliotheque: World Wide International Publishers”

Read more…

Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế

Sưu tầm
Tác phẩm Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chính trị kinh tế học phê phán và Con đường dẫn đến kinh tế thị trường của Kornai János, nhà kinh tế học người Hung, giáo sư Harvard (Mỹ), đều do Nguyễn Quang A dịch, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, vừa ra mắt đã lập tức được coi là những cuốn sách quan trọng nhất năm 2002 ở Việt Nam. Để bạn đọc có thể dễ dàng tiếp cận với hơn 1000 trang sách ấy, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của dịch giả Nguyễn Quang A sau đây.

Read more…

Karl Marx

Phạm Văn Tuấn

Karl Marx (1818-1883)

 Karl Marx đã trưởng thành trong một thời kỳ hỗn loạn, giữa các cuộc cách mạng đang diễn ra tại châu Âu vào năm 1848. Tại nước Ý có các cuộc nổi dậy đòi dân chủ, tại nước Pháp chế độ quân chủ bị tiêu diệt, đồng thời người dân Hung đang đấu tranh đòi tự do và độc lập khỏi nền cai trị của người Áo. Tại nước Đức, thể chế tiền đại nghị (pre-parliamentary) được thiết lập trong khi đó nội chiến tàn phá nước Thụy Sĩ và thành phố Prague là trung tâm của các hỗn loạn do việc thành lập liên minh thuần Slav (a pan-slavic alliance) còn tại nước Anh, phong trào đòi dân chủ Chartism đang đe dọa lật đổ chính quyền. Người dân châu Âu vào thời kỳ này đòi hỏi các chính quyền và xã hội phải giảm bớt các lạm dụng xấu xa gây nên do cuộc kỹ nghệ hóa, đòi hỏi hủy bỏ các tàn tích phong kiến. Đây là giai đoạn rất thích hợp cho các tư tưởng lật đổ, cấp tiến, và Karl Marx đã quan sát cuộc Cách Mạng Pháp năm 1848, đã coi Công Xã Paris (the Paris Commune) diễn ra vào năm 1871 là một kiểu mẫu của xã hội vô sản.

Read more…

Tư Bản Luận – Karl Marx

Phạm Văn Tuấn

Bản Tuyên Ngôn Cộng Sản bắt đầu bằng lời xác nhận rằng Lịch Sử của Nhân Loại là “lịch sử của đấu tranh giai cấp” (history of class struggle). Chính sự tranh chấp giữa các giai cấp đã gây nên các hoạt động của xã hội. Trong thời đại La Mã, đã có các giai cấp quý tộc, hạ lưu và nô lệ. Tới thời Trung Cổ của châu Âu, các giai tầng là hầu tước, kẻ bộ hạ, giới chủ nhân nghề nghiệp (guild-master), các kẻ học nghề và giới nông nô (serf). Sang thế kỷ 19, đã có các tranh chấp giữa giới tư sản (the bourgeoisie) với đa số thuộc giai cấp trung lưu thành thị mới, sở hữu các cơ xưởng sản xuất, và giới vô sản (the proletariat) gồm các công nhân làm việc cho các kỹ nghệ sản xuất.

Read more…

Bộ Tư Pháp & Dầu Khí

Thông tấn xã Việt Nam vừa phát tin cho hay: “Tối 29/12 tại Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam-PVN) và Bộ Tư pháp đã ký thỏa thuận hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp công tác giữa hai ngành trong thời gian tới. Theo nội dung thỏa thuận, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm cung cấp hướng dẫn các nội dung chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, luật quốc tế ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của PVN; hỗ trợ chia sẻ pháp lý.. Bộ Tư pháp cũng sẽ cử các chuyên gia có kinh nghiệm để hỗ trợ, tư vấn cho PVN; đào tạo bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế của toàn Tập đoàn. Tập đoàn có trách nhiệm cũng cấp thông tin, đề xuất các nhu cầu hỗ trợ pháp lý cụ thể với Bộ Tư pháp…”. Đọc kỹ thì thấy việc ký kết này là do Bộ đứng ra chứ không phải là Viện hay các Trung tâm hay Trường… của Bộ. PetroVietnam là một doanh nghiệp, cho dù là của nhà nước thì nó cũng chỉ là đối tượng thụ hưởng và bị điều chỉnh bởi các chính sách, trong đó có các chính sách được ban hành và đệ trình bởi Bộ Tư Pháp. PetroVietnam không phải là “đối tác” của một cơ quan của Chính phủ. Chức năng của Bộ là: “xây dựng và thi hành pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật…”. Bộ Tư Pháp tuy cũng có chức năng “phổ biến, giáo dục pháp luật”, nhưng đấy là nhiệm vụ mà Hiến pháp trao cho và buộc phải đối xử với mọi tổ chức như nhau chứ không phải là Bộ chỉ làm khi có ai đó yêu cầu “hợp tác”. Bản tin Thông tấn xã có đề cập đến trách nhiệm của PetroVietnam “hỗ trợ các hoạt động, các đề án do Bộ Tư pháp chủ trì” nhưng không nói rõ bao nhiêu tiền bạc. Tuy nhiên, kinh phí hoạt động của một cơ quan hành pháp chính trị là phải từ ngân sách, nếu các nhà chính trị mà cũng tìm kiếm thu nhập từ các “thương vụ” với các tập đoàn thì không thể hy vọng những chính sách mà họ đệ trình có thể vô tư, công minh để tạo ra một môi trường pháp lý bình đẳng cho mọi nhà doanh nghiệp. Đang đến mùa Đại hội, có những bên sẽ cần “kinh phí”, có những bên sẽ cần sự chú ý cho những tham vọng mới của mình. Không chỉ nhắm tới một “đại gia”, “phát biểu tại lễ ký kết, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường còn nhấn mạnh, việc hợp tác giữa hai bên sẽ là “cú hích” quan trọng không chỉ giúp PVN… mà trong tương lại sẽ đúc rút kinh nghiệm giúp các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế khác…”. Chưa rõ, ông Bộ trưởng hay ông Chủ tịch Tập đoàn Đinh La Thăng thực sự “đắc lợi” trong việc ký kết này. Tuy nhiên, đây không còn là vấn đề cá nhân của hai con người ấy. Ủy ban Pháp luật Quốc hội và Ủy Ban Thường vụ Quốc hội không thể không lên tiếng về sự “hợp tác” này, vì Bộ Tư pháp đã đi ra ngoài quyền mà Hiến pháp và Luật pháp đã trao cho mình; sự sai sót không chỉ về mặt pháp lý mà còn là về chính trị. Huy Đức

VN sẽ đóng cửa các sàn giao dịch vàng

Việt Nam đã ra lệnh đóng cửa tất cả các sàn giao dịch vàng trên toàn quốc với tổng giao dịch một tỷ đô la mỗi ngày vào cuối tháng Ba, theo báo Financial Times của Anh.

Chính phủ lo sợ rằng hoạt động của khoảng 20 sàn giao dịch vàng đang vượt khỏi tầm kiểm soát và các hoạt động đầu cơ đã làm giá vàng tăng cao.

Quyết định đóng cửa này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký hôm 30/12.

Mặc dù các sàn vàng sẽ chỉ còn hoạt động được trong ba tháng tới, hoạt động kinh doanh vàng trang sức vẫn sẽ được tiến hành bình thường, theo nội dung quyết định.

Nhưng ông Dũng cũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Nhân dân Tỉnh “có sự tổ chức và hướng dẫn cụ thể để hoạt động này đi vào nề nếp và đúng quy định.”

Ông Trần Thanh Hải, Tổng giám đốc Công ty cổ phần kinh doanh và đầu tư vàng Việt Nam nói với VnExpress nếu giá vàng tiếp tục giữ giá từ nay cho tới tháng Ba, nhiều nhà đầu tư sẽ bị thua lỗ vì hiện vẫn đang giữ vàng đã mua trước vào với giá cao và buộc phải bán khi các sàn đóng cửa.

Ông Hải cũng nói các sàn vàng chui có thể sẽ bùng nổ như từng xảy ra trước đây khi chưa có các sàn giao dịch vàng chính thức.

Ham vàng

Quyết định của Thủ tướng Việt Nam cũng cấm việc sử dụng tài khoản ở nước ngoài để kinh doanh vàng.

Các sàn vàng đã trở thành nguồn lợi tức cho nhiều ngân hàng và các công ty mở sàn giao dịch nhưng các chuyên gia cho rằng nguồn tiền đổ vào sàn vàng sẽ làm cho thị trường chứng khoán và nhà đất khó hồi phục, theo Financial Times.

Báo này cũng nói Việt Nam là một trong những nước tiêu thụ vàng lớn nhất trên thế giới và người Việt Nam mua một lượng vàng tính theo đầu người bằng với người Đức cho dù người Đức có thu nhập bình quân đầu người cao gấp 40 lần so với người Việt Nam.

Nhưng việc tiêu thụ vàng nhiều đã gây sức ép lên tiền đồng Việt Nam và là một trong những lý do chính khiến chính phủ phải phá giá tiền đồng hơn 5% hồi cuối tháng Mười Một.

Vàng nhập khẩu cũng góp phần làm tăng thâm hụt mậu dịch của Việt Nam vốn lên tới 12,2 tỷ đô la trong năm 2009, theo Financial Times.

Năm mới đầy thách thức

Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
2010-01-02

Việt Nam bước vào năm dương lịch 2010 với nhiều thách thức. Năm cuối của thập niên thứ nhất thế kỷ 21 có vị thế quan trọng, là chìa khóa để người Việt Nam mở cánh cửa vào tương lai.

RFA PHOTO

Sinh viên Thanh niên Việt Nam biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.

Đọc báo điện tử trong nước những ngày đầu năm, chúng tôi ghi nhận thông tin liên quan được các báo tải lên mạng như Tuổi Trẻ, Đầu Tư, Saigon Times Online, Saigon Tiếp Thị…

Chủ quyền quốc gia

Trong bài viết đầu năm dương lịch phổ biến cho báo chí, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận chặng đường đầy khó khăn mà chính phủ và người dân Việt Nam đã vượt qua trong hai năm 2008-2009. Những bài học và kinh nghiệm rút tỉa được người đứng đầu chính phủ gút lại trong 5 điểm, trong đó nổi bật điều kiện phát triển bền vững là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh doanh. Ông Nguyễn Tấn Dũng thể hiện nhận thức về việc bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh trong khi tập trung ứng phó với các thách thức khó khăn về kinh tế xã hội. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không xác định sự đe dọa chủ quyền quốc gia đến từ đâu, tuy nhiên vấn đề Biển Đông cùng tham vọng bá quyền của người láng giềng khổng lồ phương Bắc, được báo chí Việt Nam đề cập khá nhiều thời gian gần đây, sau giai đoạn bị cấm đoán cho đến giữa năm 2009.

Kinh tế, xã hội

Trong dự báo hồi phục mong manh của kinh tế toàn cầu, ông Nguyễn Tấn Dũng nhận định về hoàn cảnh Việt Nam, theo đó “với nền kinh tế có độ mở lớn, hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới và còn phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố bên ngoài thì độ rủi ro và tính bất định sẽ còn rất lớn.”

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn và một thách thức lớn.

TS Lê Đăng Doanh

Đối với kế hoạch năm nay 2010, thủ tướng Việt Nam đề cập rất chi tiết. Tuy nhiên có thể thấy rõ 5 nhiệm vụ và giải pháp gồm: Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; Tập trung mọi nỗ lực thúc đẩy đầu tư, tái cấu trúc nền kinh tế; Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc; Nâng cao năng lực chỉ đạo và tổ chức thực hiện; Tạo sự đồng thuận trong hệ thống chính trị.

Trong dịp trả lời Đài chúng tôi, khi nhận định về triển vọng năm 2010, kinh tế gia Lê Đăng Doanh từ Hà Nội đã phát biểu:

“Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn và một thách thức lớn. Cơ hội lớn là nếu cải tổ nền kinh tế Việt Nam có thể tiến lên vượt bực là, nếu cải tổ và phát triển được lãnh vực giáo dục đào tạo thì người lao động Việt Nam sẽ có tay nghề cao hơn. Nền kinh tế Việt Nam có thể dịch chuyển vào những nấc thang phát triển cao hơn như là chế biến chế tác được sâu hơn và với công nghệ cao hơn có thể có giá trị gia tăng cao hơn.

Các lãnh vực khác như y tế thì chính phủ đã họp và thừa nhận rằng tình trạng quá tải về y tế chứng tỏ mức đầu tư về y tế của Việt Nam không theo kịp mức gia tăng dân số và mức đô thị hóa. Các yếu tố khác cũng đòi hỏi nỗ lực vượt bực như kết cấu hạ tầng, đường xá, điện năng, và còn đòi hỏi nhiều nỗ lực khác nữa để cho kinh tế và đời sống của người dân được tốt hơn.”

Vốn vay ODA

Sự thành công của Việt Nam trong những năm vừa qua cũng đưa tới thách thức lớn. Đất nước 86 triệu dân bước vào 2010 với vị thế quốc gia có thu nhập trung bình. Với sự xác định này, Việt Nam mất nhiều ưu đãi từ nguồn vốn viện trợ phát triển, tuy có nhiều kênh vay tiền hơn nhưng lãi suất có thể chỉ kém vay thương mại một ít. Những ngày cuối năm báo chí Việt Nam trích phát biểu của ông James Adams, Phó Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, tán dương sự kiện “ trong vòng chưa đến bảy năm, Việt Nam chuyển dịch từ một quốc gia nghèo nợ nhiều sang vị thế một quốc gia có thu nhập trung bình”. Đánh giá này được đưa ra nhân dịp Việt Nam nhận được khoản vay lần đầu tiên trị giá 500 triệu USD từ Ngân hàng Tái thiết và Phát triển thuộc hệ thống Ngân hàng Thế giới. Tín dụng vừa nói nhằm giúp Việt Nam cải cách đầu tư công.

Báo Saigon Tiếp Thị điện tử gọi đây là những khoản vay mới với áp lực mới. Trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, với GDP đầu người dự kiến đạt 1.200 USD trong năm nay (2010), Việt Nam có thể tiếp cận hàng loạt các kênh tín dụng của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, các quĩ phát triển của Pháp, Đức, Nhật. Tuy nhiên các khoản vay ODA này sẽ có điều kiện gần với điều kiện vay thương mại. Từ 1993 tới nay các khoản vay viện trợ phát triển nước ngoài mà Việt Nam nhận được không chịu lãi hoặc lãi suất ưu đãi rất thấp, thời hạn vay rất dài kèm ân hạn.

Vẫn theo SGTT điện tử, năm nay ngân sách nhà nước sẽ chi hơn 70.000 tỷ đồng để thanh toán nợ gốc và lãi riêng cho các khoản vay ODA. trong 5 năm từ 2011 đến 2015 Việt Nam sẽ phải trả nợ nước ngoài hơn 6 tỷ USD. Bộ Kế Hoạch Đầu Tư dự kiến nợ nước ngoài của Việt Nam từ 31 tỷ USD năm 2010 sẽ gia tăng lên 57 tỷ USD vào năm 2015.

Các lãnh vực khác như y tế thì chính phủ đã họp và thừa nhận rằng tình trạng quá tải về y tế chứng tỏ mức đầu tư về y tế của Việt Nam không theo kịp mức gia tăng dân số và mức đô thị hóa.

TS Lê Đăng Doanh

Bài viết trên SGTT điện tử, trưng dẫn những con số tỷ đô la để cảnh báo áp lực trả nợ ngày càng gia tăng, cùng với cơ chế cho vay mới theo lãi suất thị trường, sau khi Việt Nam thăng hạng trở thành nước có thu nhập trung bình. Tờ báo kêu gọi thay đổi nhận thức về các dự án từ vốn vay ODA, nợ phải trả, không ai khác, chính là người dân.

Căn bệnh nhập siêu

 

Hàng ngoại đa số là hàng Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam

Bước vào năm mới căn bệnh nhập siêu cũng được đề cập khá nhiều. Tuổi Trẻ Online đặt câu hỏi “Liệu có cân đối được xuất nhập khẩu?”, câu trả lời còn ở phía trước và quả là khó khăn để xác định. Theo tờ báo, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam bắt đầu mất cân đối từ năm 2005 nhập khẩu năm đó cao hơn xuất khẩu chưa tới 3 tỷ USD, nhập siêu năm sau cao hơn năm trước, tới năm 2008 nhập siêu lên tới 18 tỷ USD. Đi vào chi tiết, những con số khô khan thể hiện nhiều sự thật khó ngờ. Việt Nam xuất siêu với hầu hết các nước tư bản như Mỹ, Pháp, Úc, New Zealand, tuy vậy với nước bạn Trung Quốc mức nhập siêu của Việt Nam đầy lo ngại. Mức nhập siêu với Trung Quốc gia tăng đều đặn từ 2003 đến nay, riêng 2008 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc trị giá hơn 4 tỷ 500 triệu USD và nhập khẩu lên tới 15 tỷ 600 triệu USD nhập siêu khoảng 11 tỷ USD.

Tại sao cán cân thương mại Việt Trung lại mất cân đối nghiêm trọng như vậy, doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc theo kiểu thuận mua vừa bán hay là vì còn có những yếu tố khác chi phối.

Kết thúc mục đọc báo điện tử đầu năm, chúng tôi xin trích lời TS Lê Đăng Doanh để tuyên dương người nông dân Việt Nam đã đưa hai vai đỡ gánh nặng suy thoái cho đất nước:

“Năm 2009 đã đi qua đối với Việt Nam với những thành tựu về mặt kinh tế nhẹ nhàng hơn, tốt đẹp hơn những dự báo ban đầu về tác động của cuộc khủng hoảng, đó là nền kinh tế Việt Nam đã có tăng trưởng, đến các quí cuối năm lao động đã có việc làm thêm và chỉ số giá cả chỉ dừng lại ở mức khoảng 7%. Đấy là những tín hiệu đáng mừng, có được những thành tựu đó là nhờ các nỗ lực chịu khó chịu khổ và năng động của người nông dân đã bảo đảm an ninh lương thực và đóng góp vào xuất khẩu đến 6 triệu tấn gạo, cũng như là thủy sản và các sản phẩm khác.”

Trang điện tử Việt Báo đưa tin, Bộ NN-PTNT loan báo kim ngạch xuất khẩu nông sản 2009 đạt 15 tỷ 400 triệu USD, vượt qua mục tiêu 14 tỷ USD do chính phủ ấn định. Đây là lãnh vực duy nhất của cả nền kinh tế có thành quả cao hơn trông đợi. Theo Đầu Tư Online tổng thể bức tranh xuất khẩu nông sản 2009 là sự đan xen giữa các gam màu sáng tối, bên cạnh sự vượt trội về lượng của một số mặt hàng như gạo, là sự sụt giảm đáng kể về kim ngạch của nhóm hàng nông sản chủ lực.

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.