I.1. FFVII’s History

Title: Final Fantasy VII
Platforms: PlayStation 1
Japan – 31/01/1997
United States – 31/08/1997

Title: Final Fantasy VII International
Platforms: PlayStation 1
Japan – 02/10/1997

Title: Final Fantasy VII
Platforms: PC
United States – 31/05/1998

The History
Final Fantasy VII là một bước ngoặt trên nhiều phương diện. Được phát hành với sự quảng cáo và phô trương ầm ĩ, trên cả các phương tiện truyền thông lúc đó, thậm chí là cả bến xe buýt ở những khu vực trung tâm. Giá của sản phẩm đã vượt qua tất cả những phiên bản trước đây. Final Fantasy VII còn là game giúp Sony chiến thắng Nintendo trong cuộc chiến giành thị phần máy chơi game. Final Fantasy VII xuất hiện hàng tháng trời qua phương tiện thông tin như là một game chỉ dành cho thế hệ máy chơi game mới là PlayStation và giúp nó chiến thắng hệ máy chơi game mới của Nintendo là Nintendo 64. Nintendo đã bị giáng một đòn chí tử và chịu nhường lại thị trường cho Sony và PlayStation đã trở thành sự lựa chọn số một cho những người chơi game hồi đó.
Ngay sau đó, Square lại tung ra một chiến dịch quảng cáo lớn nhất từ trước tới giờ cho Final Fantasy VII tại Mỹ. Và kết quả là Final Fantasy VII đã bán được hàng triệu bản ở thị trường trong nước và tính đến nay bán được 6 triệu bản trên toàn thế giới. Final Fantasy đã có một bước ngoặt rõ rệt từ đây với một cột mốc lớn trong toàn loạt game, Final Fantasy VII.
Sau đó Eidos đã lên kế hoạch phát hành bản dịch cho máy PC.Về cơ bản nó giống với phiên bản trên máy PlayStation. Tuy không thành công như phiên bản PlayStation nhưng nó cũng giúp cho dân chơi game PC thỏa được mong ước dù cho việc chơi được phiên bản PC này vào thời đó chỉ có thể đối với những máy tính đỉnh cao.

Game & Battle System
Được giải phóng khỏi băng cadtridge và cộng thêm số vốn hơn 30 triệu USD, Square đã tạo ra một game có kích thước và phạm vi vượt hẳn so với các phiên bản trước. Đồ hoạ 3D mà các fan gặp lúc bấy giờ quả là một điều tuyệt vời, người chơi có thể khám phá thế giới trong game một cách tường tận và kỹ càng nhất là khi ở bên ngoài thế giới, họ bị choáng ngợp bởi đồ hoạ của Final Fantasy VII – chân thực từ ngọn núi đến đồng cỏ. Tuy vậy điểm yếu của thế giới bên ngoài còn có rất nhiều.
Xuất hiện trong game lần đâu tiên là những Full Motion Video. FMV của Final Fantasy VII thật đáng kinh ngạc và hơn hẳn các game cùng thời. Với ý tưởng của Sakaguchi, Square đã kết hợp FMV vào luôn cảnh chơi tạo cho người chơi cảm giác thú vị, giúp cho game không bị ngắt quãng kô cần thiết đông thời có thể tả thực những đoạn mà đồ hoạ trước giờ không thể làm được.
Kế đến âm nhạc, Final Fantasy VII được coi là nơi tập hợp những giai điệu tuyệt vời nhất của Nobuo, ông có rất nhiều giai điệu bất hủ ở đây. Một giai điệu của bài One Winged Angel bi hùng và hoành tráng như kết thúc cho một câu chuyện của một Sephiroth được làm nhạc nên cho Final Battle. Một đoạn nhạc Cosmo Canyon hay Costa Del Sol. Tuy không có những ca khúc chủ đề như Final Fantasy VIII, IX hay X nhưng bù lại tổng thể Final Fantasy VII được đánh giá rất cao kể từ nhạc trong trận đánh lẫn khi đi làm nhiệm vụ…

The Plot
Tập đoàn khai thác và sử dụng nguồn năng lượng sống Mako từ trung tâm của hành tinh. Bạn là Cloud, một chiến binh bình thường ra nhập vào lực lượng nổi dậy Avalanche, chống lại Shinra, nhưng sau này họ biết được mối đe doạ lớn hơn nhiều, một kẻ khủng khiếp muốn phá huỷ tất cả để trở thành thần thánh. Final Fantasy VII đã đọng lại trong lòng người chơi một cốt truyện hấp dẫn và lôi cuốn cùng với những vui buồn của nhân vật. Tất cả chỉ là xoay quanh một chân lý đã được ngàn đời khẳng định: Chính nghĩa luôn luôn chiến thắng kẻ ác bá với mong muốn thống trị. Thế nhưng để đổi lại điều đó, các nhân vật của chúng ta đã phải trả cái giá quá đắt cho sự chiến thắng. Đó là sự ra đi của Aeris, mang theo bao sự tiếc nuối của người chơi.

I.2. Character Info

2.1. Aeris Gainsborough

Job : Flower Merchant
Age : 22
Weapon : Rod
Height : 163 cm
Birth Date : February 7
Birth Place : Unknown
Blood Type : O

Aeris là một vệt sáng trong bóng tối và sương mù ở Midgar. Chứa trong mình những bí ẩn xung quanh toàn bộ cốt truyện: mảnh đất Hứa, viên White Materia… Aeris có thể coi là nhân vật có số phận bi kịch nhất trong loạt game Final Fantasy. Dưới lưỡi gươm của Sephiroth, cái chết của Aeris gây rất nhiều xúc động cho người chơi và lần đầu tiên tình yêu bắt đầu đóng góp phần nào ít nhiều trong quá trình chơi. Chính cái chết của Aeris là một phần động lực cho quá trình chiến đấu của Cloud. Cũng như rất nhiều nhân vật nữ chính khác, Aeris có thể coi là một White Mage với những tuyệt chiêu Limit Breaks có khả năng hỗ trợ và tăng sức mạnh cho đồng đội.

Limit Break

Healing: 6 | No damage: 1

Level 1:

1. Healing Wind (Restores HP of all allies)
Aeris sử dụng sức mạnh của gió để phục hồi HP cho tất cả các nhân vật.

2. Seal Evil (Constrains and stop the magic of all opponents)
Đối phương sẽ mắc phải 1 trận mưa điện màu tím và mắc phải 2 trạng thái Mute + Stop

Level 2:

1. Breath of the Earth (Cures all status ailments of all allies)
Một luồng sáng dài bao quanh đội hình, chữa trị mọi trạng thái cho các nhân vật.

2. Fury Brand (Raises party’s Limit gauge to the max, except yours)
Aeris nắm chặt cây gậy phép của cô và đưa lên cao và 1 luồng ánh sáng sẽ đập vào các nhân vật. Thanh Limit bar của các nhân vật sẽ tăng lên mức tối đa.

Level 3:

1. Planet Protector (Makes all allies invincible one time)
Một cơn mưa sao sẽ bao quanh đội hình, tạo cho các nhân vật ở trạng thái invincible.

2. Pulse of Life (Fully restores all allies)
Aeris cầu nguyện thần ánh sáng, điều đó sẽ giúp phục hồi toàn bộ các chỉ số cho nhân vật.

Level 4:

Great Gospel (Fully restores all allies, makes them invincible one time)
Một cơn bão sẽ bao trùm toàn bộ bãi chiến trường. Sau đó, Aeris triệu tập 3 thiên thần. 1 luồng sáng sẽ chiếu xuống đội hình, phục hồi toàn bộ các chỉ số và các nhân vật sẽ ở trạng thái invincible trong 1 khoảng thời gian.

Nơi lấy: Để lấy được Limit Break 4 của Aeris, tìm và bắt chuyện với người đàn ông ngủ trong hang núi gần Junon, (khi 2 số cuối của số các trận đánh của bạn là 2 số lẻ chia hết cho 11) thì người đàn ông đó sẽ đưa cho bạn 1 món Item được gọi là Mythril. Đưa Mythril Cho người chế tạo vũ khí ở căn nhà nằm riêng biệt gần bãi biển cạnh Gold Saucer, sau đó bạn chọn chiếc hòm nhỏ thì sẽ nhận được Great Gospel.

2.2. Red XIII (Nanaki)

Job : Research Specimen
Age : 48
Weapon : Headdress (Fang)
Height : 120 cm
Birth Date : Unknown
Birth Place : Cosmo Canyon
Blood Type : Unknown

Là một nhân vật kì lạ, Red XIII có ngọai hình giống như một con cọp với một cái đuôi có ánh lửa. Red nhìn trông rất dữ tợn với khuôn mặt và có một hình xăm chữ “XIII” trên chân trước bên trái. Cha và mẹ của Red XIII là những người đã chết trong cuộc chiến của họ với bộ tộc GI. Nhưng Red XIII không hề biết chuyện này, nên anh ta tưởng cha mình – Seto đã bỏ chạy khi bị tấn công và để lại mẹ anh ta cho tới chết. Cách đây 5 năm, Red XIII bị một nhà bác học là Hojo đem về để thực hiện công trình tạo ra những sinh vật với khả năng huyền bí và đặt cho anh ta kí hiệu XIII. Tại đây, Red XIII đã gặp được nhóm Cloud. Và một cảnh trong game khiến người chơi vô cùng cảm động khi Red XIII nhận ra sự vĩ đại của người cha Seto ngày nào, một con người lừng lững hiên ngang trên đầu ngọn núi đỡ hàng trăm mũi tên để bảo vệ bộ tộc, và một giọt nước mắt lăn xuống, từ người cha đã mất… Chính từ đó, Red XIII đã cùng bước trong hành trình với Cloud.

Limit Break

All enemies: 3 | One enemy: 2 | Healing: 2

Level 1:

1. Sled Fang (Attacks one opponent)
Red XIII nhảy thẳng về phía quân địch, với 1 lực bao quanh theo hình nón màu xanh.

2. Lunatic High (Casts [Haste] and raises “Defense %” for all allies)
Red XIII tru lên 1 tiếng dài, và xung quanh người Red XIII được bao phủ bởi 1 vùng lửa màu vàng, nó có tác dụng lên tất cả các nhân vật của bạn.

Level 2:

1. Blood Fang (Attacks and drains the HP/MP from one opponent)
Theo cách nói của tôi thì đây là phiên bản nâng cấp của Limit Sled Fang. Red XIII lao vào quân địch với 1 lực xoáy bao quanh màu đỏ, nó sẽ drain HP, và MP để cung cấp cho các nhân vật.

2. Stardust Ray (Attacks all opponents)
Một trận mưa sao sẽ trải xuống phía đối phương.

Level 3:

1. Howling Moon (Begins fighting wildly)
Red XIII nhảy lên không trung và tru lên dưới ánh trăng, tất cả các nhân vật sẽ trở nên điên dại (trạng thái berserk)

2. Earth Rave (Attacks all opponents)
Red XIII tấn công liên tục đối thủ, mỗi đòn tấn công của Red XIII sẽ gây 1 vụ nổ gây sát thương cho đối thủ.

Level 4:
Cosmo Memory (Attacks all opponents)
Một bầu trời đầy những vì sao từ từ liền lại tạo thành 1 quả cầu lửa khổng lồ. Quả cầu lớn lên một cách nhanh chóng và phóng nguồn năng lượng vào phía đối thủ tạo nên 1 vụ nổ lớn (như Big bang ý)

Nơi lấy: Mở cái két sắt ở Nibelheim và tiêu diệt trùm canh giữ trước khi nhận được Limit Break.

2.3. Yuffie Kisaragi

Job : Materia Hunter, Ninja
Age : 16
Weapon : Knife, boomerang, and origami
Height : 160 cm
Birth Date : November 20
Birth Place : Wutai
Blood Type : A

Được sinh ra trong một gia đình gia giáo, với những truyền thống và đạo luật rất khắt khe, ngay từ khi còn nhỏ Yuffie đã được đào tạo để trở thành một Ninja hoàn hảo. Với thân hình nhanh nhẹn, nhỏ bé nhưng Yuffie đã sớm bộc lộ được thiên khiếu của mình. Một cuộc chiến tranh xảy ra khi Shinra xâm chiếm vùng đất Wutai với đội quân và lực lượng trang bị vũ khí hiện đại và những viên materia lấy từ nguồn năng lượng mà shinra hút từ life stream. Godo đã chống trả nhưng đành thất thủ, với mong muốn săn tìm những viên Materia Yuffie đã thực hiện một cuộc phiêu lưu ra thế giới bên ngoài. Và cũng từ đó, Yuffie đã tình cờ gặp được Cloud và nhóm bạn của anh ta. Với quá trình trau dồi qua nhiều trận đánh, Yuffie đã vượt qua được cuộc kiểm tra do Godo đề ra để thử tài Ninja. Yuffie là nhân vật có khả năng rất đặc biệt như bất kỳ những Ninja nào khác, với Ultimate Weapon, Yuffie có khả năng đặc biệt như Morph hay gây Damage lớn lên Ruby Weapon… Đây là mẫu nhân vật không nên thiếu và cũng rất nhộn ^_^.

Limit Break

All enemies: 5 | One enemy: 1 | Healing: 1

Level 1:
1. Greased Lightning (Attacks opponent with weapon after cutting them)
Yuffie tấn công quân địch với đòn đánh nhanh gọn khiến đối thủ phải mất vài giây sau mới thấy tác động của đòn đánh. Có sức mạnh gấp hai lần bình thường.

2. Clear Tranquil (Restores HP of all allies)
Yuffie tập trung năng lượng vào vũ khí của cô bé, tạo ra 1 quả cầu màu xanh da trời có tác dụng phục hồi chỉ số HP cho các nhân vật.

Level 2:
1. Landscaper (Attacks all opponents)
Yuffie tạo nên 1 trận động đất lên tất cả các đối thủ. Một đòn thế có sức tấn công lớn cho một nhóm đối thủ.

2. Bloodfest (Continuously attacks all opponents)
Màn hình lúc này trở thành màu đỏ, và Yuffie tấn công 12 đòn liên tiếp có sức công phá 1/2 bình thường với đối thủ được chọn ngẫu nhiên.

Level 3:
1. Gauntlet (Attacks all opponents)
Yuffie tấn công và tạo nên 1 cột năng lượng thẳng đứng ở phía đối phương và nó sẽ gây ra sát thương cho tất cả các đối thủ. Nếu Level cao, sức sông phá có thể ngang với All Creation

2. Doom of the Living (Continuously attacks opponents)
Đây là đòn đánh nâng cấp của Bloodfest với số lượng đòn tấn công nhiều hơn, Yuffie tấn công với 1 số lượng đòn khá lớn và mạnh..

Level 4:
All Creation (Attacks all opponents)
Yuffie tập trung năng lượng vào vũ khí của mình, và tạo nên 1 nguồn năng lượng khổng lồ, chiếu thẳng vào phía đối phương với mức sát thương cực mạnh.

Nơi lấy: Yuffie sẽ nhận được khi cô bé hạ được Godo sau khi đã lên tới tầng trên cùng của ngôi chùa ở Wutai.

2.4. Cait Sith

Job : Toysaurus
Age : Unknown
Weapon : Megaphone
Height : 100 cm
Birth Date : Unknown
Birth Place : Unknown
Blood Type : Unknown

Cait Sith cưỡi trên lưng một con Mog khổng lồ (gọi là thế chứ chưa hẳn là Mog), nhưng thực chất Cait Sith lại chỉ là một thứ đồ chơi do Reeve điều khiển. Tiếp cận với Cloud khi anh ta cùng nhóm bạn đến Gold Saucer, chính Cait Sith là người lấy cắp chiếc Key Stone để đi tới Temple of Ancient. Nhưng về sau lại giúp Cloud tiêu diệt khẩu pháo khổng lồ cùng tham vọng của Hojo. Nói về Cait Sith, bạn có thể không thích sử dụng nhân vật này, khả năng cùng các chỉ số ở mức trung bình trong khi Limit không có gì nổi trội, nếu không muốn nói rất dễ die nếu như không may.

Limit Break

Cait Sith là nhân vật duy nhất chỉ có 2 Limit Breaks, và mỗi Limit là 1 cấp độ level khác nhau.

Level 1:
Dice (Rolls the dice, damage)
Cait Sith ném xúc xắc ra trước màn hình, giá trị mà số xúc xắc đó có được x với 100 sẽ chính là số sát thương lên đối thủ. Nếu Cait ném 2 xúc xắc thì sát thương sẽ nhân 2, ném 3 súc sắc thì sát thương sẽ nhân 3. Càng về sau Cait sẽ càng ném ra nhiều xúc xắc hơn và sát thương sẽ càng ở mức độ cao. Cait có thể ném ra 8 viên xúc xắc với sức sát thương là 4800 HP. Không tệ với Limit Level 1.

Level 2:
Slots (What’ll come out next…?)
Một dãy các vòng quay gồm 3 rãnh sẽ xuất hiện (giống kiểu chơi trong 1 số sòng bạc), và tuỳ theo kết quả mà bạn chọn nó sẽ gây ra các kết quả tương ứng:

Mog Dance (3 Stars) – Mog sẽ xuất hiện và phục hồi 80% HP và MP cho tất cả các nhân vật.

Toy Soldier (3 Crowns) – 6 tên lính đồ chơi của trẻ con sẽ xuất hiện và xếp hàng bắn vào đối thủ (trông khá vui mắt).

Summon (3 Bars) – Một summon bất kì sẽ được triệu tập và tấn công đối thủ, ngoại trừ Knights of the Round.

Transform (3 Mogs) – Cait biến thành khổng lồ để chiến đấu một mình. Cuối trận, toàn bộ nhân vật chỉ còn 1/3 HP và MP.

Lucky Girl (3 Hearts) – Tất cả các thành viên đều chắc chắn có thể ra đòn trúng đối phương 100%.

Death to All (2 Cait Sith and 1 Bar) – Toàn bộ các nhân vật của bạn sẽ ra đi… Game Over.

Instant Victory (3 Cait Sith) – Tất cả các đối thủ mà bạn gặp sẽ bị tiêu diệt chắc chắn khi gặp phải chiêu này.

Toy Box (Anything Else) – Một hộp đồ chơi sẽ xuất hiện và gây ra một sat thương nhỏ cho đối thủ.

2.5. Vincent Valentine

Job : Unemployed
Age : 57
Weapon : Gun
Height : 184 cm
Birth Date : October 13
Birth Place : Unknown
Blood Type : A

Một người đàn ông bí ẩn, lạnh lùng và chính trực với một quá khứ gắn liền với Shinra. Từng là thành viên trong nhóm Turks, Vincent được cử đến giám sát cuộc thí nghiệm của ba mươi năm về trước của Shinra. Nhưng không may dưới những ước muốn điên rồ của tên bác học Hojo, Vincent không những bị mất người yêu dấu Lucrecia mà còn trở thành một vật thí nghiệm của Hojo. Điều đó khiến cho trong Vincent ẩn chứa một sức mạnh khủng khiếp – có khả năng biến thành những quái vật theo ý mình. Ngủ say trong quãng thời gian dài trong chiếc quan tài ở tầng hầm Shinra Mansion, Vincent đi theo Cloud khi biết Cloud có liên quan đến Sephiroth – kẻ là con trai của Hojo và Lucrecia… Đây là lần đầu tiên trong phiên bản của Final Fantasy có sự xuất hiện của súng, một thứ vũ khí thời hiện đại.

Limit Break

Transforms: 4

Vincent chỉ có duy nhất 4 Limit Breaks, và mỗi Limit ở 1 cấp độ khác nhau. Khi biến hình anh ta sẽ trở thành một loại monster, với lượng HP tăng hơn nhiều so với bình thường và sức mạnh tuỳ thuộc ở từng cấp độ level.

Level 1:

Galian Beast (Turns into Galian Beast!)
Vincent biến thành demonic monster với đòn tấn công bằng móng vuốt.

Beast Flare: Một lực sát thương lớn khi Galian Beast phun một quả cầu lửa về phía toàn bộ kẻ địch.

Berserk Dance: Galian Beast lồng lên rồi xông vào quân địch với một cú đấm.

Level 2:

Death Gigas (Turns into Death Gigas!)
Vincent trở thành quái vật có thuộc tính Undead là “Frankenstein’s Monster” với các đòn tấn công chậm chạp nhưng khá mạnh.

Livewire: Một quả cầu điện nhốt kẻ địch bên trong và sau đó sẽ làm đối phương mất đi lượng HP đáng kể.

Gigadunk: Death Gigas nhảy lên cao và giáng một cú đấm cực mạnh khi nhảy bổ xuống đầu đối phương.

Level 3:

Hellmasker (Turns into Hellmask!)
Vincent trở thành một nhân vật đáng sợ >.< với chiếc mặt nạ trên đầu và cầm 1 thứ vũ khí kiểu cưa máy tự động.

Splattercombo: Một loạt 5 đòn tấn công với một đối thủ.

Nightmare: Mọi trạng thái bất lợi sẽ ếm lên quân địch.

Level 4:

Chaos (Transforms to Chaos!)
Vincent trở thành chúa tể của quỷ dữ Chaos và các đòn đánh gây sát thương cho tất cả các đối thủ.

Satan Slam: Một đòn thế rất mạnh khi tạo ra quầng lửa làm mất 7000 HP mỗi đối thủ.

Chaos Saber: Một cú đấm tầm xa có tác dụng lên tất cả đối thủ như khi sử dụng Slash-All.

Nơi lấy: Lấy ở Lucrecia Cave trong thác nước gần Nibelhelm.

2.6. Cid Highwind

Job : Pilot
Age : 32
Weapon : Spear
Height : 178 cm
Birth Date : February 22
Birth Place : Unknown
Blood Type : B

Ngay từ khi còn nhỏ, Cid đã có một ước mơ rất vĩ đại là: trở thành con người đầu tiên được bay lên vũ trụ. Với hoài bão ấy, anh đã quyết tâm tìm hiểu và học hỏi, để làm ra một bản thiết kế về cái vật thể sẽ giúp anh thực hiện được ước mơ của mình, đó là một con tàu vũ trụ. Trải qua nhiều năm miệt mài và sử dụng hầu hết thời gian của mình vào công trình nghiên cứu đó, lại được sự giúp đỡ và ủng hộ của một cộng tác viên rất nhiệt tình, người không ai khác là Shera vợ anh. Cid đã hoàn thành được về cơ bản cho con tàu của mình. Tuy nhiên do một sự cố đáng tiếc xảy ra, chuyến bay vào vũ trụ cùng ước mơ của Cid đã tan biến. Sau một thời gian, tuy ý nghĩ về một con tàu vũ trụ đã được nhạt dần. Nhưng Cid vẫn không thể từ bỏ được giấc mơ được bay lên bầu trời của mình. Với khả năng sử dụng chiếc thương một cách thành thạo cùng với những Limit Breaks vô cùng lợi hại của mình, Cid được coi là một trong những thành viên mạnh nhất của nhóm.

Limit Break

All enemies: 5 | One enemy: 2

Level 1:

1. Boost Jump (Attack an opponent)
Cid nhảy lên trên không trung rồi lao xuông với ngọn giáo hướng về phía đối phương.

2. Dynamite (Attacks all opponents)
Cid châm ngòi thuốc nổ bằng điếu thuốc của mình, và ném chúng về phía quân địch.

Level 2:

1. Hyper Jump (Attacks all opponents, sometimes dealing [Death])
Cid nhảy lên cao để tăng sức mạnh rồi lao xuống tạo thành 1 vụ nổ lớn ở vùng đất đối phương đang đứng.

2. Dragon (Attacks and drains the HP/MP from one opponent)
Cid tạo ra hình dáng dragon từ sức mạnh của cây giáo rồi điều khiển nó tiến về phía quân địch, nó sẽ drain HP và MP của đối phương.

Level 3:

1. Dragon Dive (Continuously attacks, sometimes dealing [Death])
Cid liên tục nhảy lên cao và lao xuống tấn công liên tiếp các đối thủ, mỗi một lần là sẽ tạo ra 1 nguồn năng lượng sát thương lớn.

2. Big Brawl (Attacks all opponents)
Cid tấn công liên tiếp vào đối phương.

Level 4:

Highwind (Causes big damage to all opponents)
Một trận mưa tên lửa sẽ lao xuống phía bên quân địch, và khi rơi xuống chúng sẽ phát sinh 1 nguồn năng lượng sát thương khá lớn.

Nơi lấy: Lấy ở chiếc máy bay bị đắm dưới nước (bạn cần có chiếc tầu ngầm màu trắng hay đỏ để đến được đó).

2.7. Barret Wallace

Job : Leader of AVALANCHE
Age : 35
Weapon : Gun-arm
Height : 197 cm
Birth Date : December 15
Birth Place : Corel Village
Blood Type : O

Đứng đầu nhóm người phản động chống chính phủ, AVALANCHE, phản đối việc Shinra, những kẻ nắm độc quyền nguồn năng lượng Mako xây những lò hạt nhân hút những năng lượng độc quyền đó. Với mối thù khi Barret cho rằng chính Shinra phải chịu trách nhiệm về cái chết của người vợ thân yêu khi chúng biến cả thị trấn Corel trở thành đống đổ nát. Có một mối quan hệ khởi đầu không tốt lắm với Cloud nhưng sau đó Barret luôn là thành viên rất đắc lực của nhóm. Với sức mạnh của mình và những khả năng ra đòn cực mạnh cũng như hỗ trợ cho nhóm, Barret xứng đáng đứng trong đội hình bên cạnh Cloud.

Limit Break

All enemies: 4 | One enemy: 2 | No damage: 1

Level 1:

1. Big Shot (Attack one opponent)
Barret tạo nên 1 luồng sức mạnh ở khẩu súng trên tay của ông ta và bắn nó về phía đối phương.

2. Mindblow (Reduces one opponent's MP)
Barret làm tiêu hao lượng MP của đối thủ với những luồng sáng màu xanh da trời.

Level 2:

1. Grenade Bomb (Attacks all opponents)
Barret bắn lựu đạn về phía quân địch, sát thương cho tất cả các đối thủ.

2. Hammerblow (Blows away one opponent)
Barret lao về phía đối phương, đánh và ép đối thủ ra khỏi battlefield.

Level 3:

1. Satellite Beam (Attacks all opponents)
Đối phương sẽ nằm trong tầm ngắm của súng, và 1 loạt các luồng sáng sát thương sẽ phóng vào chúng từ các khoảng trống.

2. Angermax (Attacks all opponents)
Barret lắp khẩu súng thật sự của ông ta ra vào cánh tay và sau đó là 1 loạt những luồng đạn được xả vào quân tất cả các đối thủ.

Level 4:

Catastrophe (Damages all opponents)
Barret nhảy lên không trung, và liên tục bắn xuống phía đối phương những dòng stream có sức huỷ diệt kinh khủng.

Nơi lấy: Để nhận được Catastrophe, quay trở lại North Corel sau khi Sephiroth summons Meteor và nói chuyện với người đàn bà ở giữa trong căn nhà phía tây. Bạn sẽ nhận được Catastrophe.

2.8. Tifa Lockheart

Job : Bar Hostess, AVALANCE member
Age : 20
Weapon : Glove
Height : 167 cm
Birth Date : May 3
Birth Place : Nibelheim
Blood Type : B

Là người bạn thời thơ ấu của Cloud, Tifa là người đã thuyết phục Cloud khi Cloud lờ đi sự giận dữ của Barret mà lạnh lùng bỏ đi. Đây là một cô gái tình cảm và rất tế nhị, điều đó thể hiện qua những hành động của cô mà bất kỳ một fan của Final Fantasy VII nào cũng đều chứng kiến. Từng lời nói, việc làm đều thấm được những tình cảm chân thành với Cloud, nhất là cuối dissc 2. Vũ khí Tifa sử dụng là đôi găng tay “đấm bốc”. Một điều tương đối lạ là trong các phiên bản trước đó, công việc tấn công đối thủ bằng hai tay được gọi là Monk hay Karate Master và thường giành cho giới nam. Không hiểu sao Final Fantasy VII lại ưu ái cho Tifa nhận chức vụ này…

Limit Break

One enemy: 7

Tifa's Limit Breaks được thực hiện theo 1 kiểu cách khác biệt. Nếu bạn bắt đầu thực hiện "Limit," một dãy các vòng quay sẽ bắt đầu hoạt động, Mỗi một vòng quay sẽ tương ứng với 1 chiêu thức của Tifa. Nếu vòng quay đòn tấn công sẽ được thực hiện. Ở chữ "YEAH" lượng sát thương sẽ được tăng lên, và nếu vào "MISS" thì đòn tấn công sẽ bị bỏ qua. Mục tiêu sẽ được chọn ngẫu nhiên theo từng đòn đánh. Số lượng vòng quay sẽ hiện ra tương ứng với số chiêu Limit mà Tifa đã học được.

Level 1:

1. Beat Rush (Attack an opponent)
Đòn đánh liên tục vào một đối thủ

2. Somersault (Attack an opponent)
Tifa thực hiện cú đá ngược vào đối thủ.

Level 2:

1. Waterkick (Attack an opponent)
Tifa quay tròn rồi đá vào đối thủ với với những bong bóng nước di chuyển xung quanh.

2. Meteordrive (Attack an opponent)
Tifa tóm lấy một đối thủ rồi đập mạnh xuống dưới sàn đấu.

Level 3:

1. Dolphin Blow (Attack an opponent)
Tifa kết hợp với sức mạnh của cá heo để tấn công đối thủ.

2. Meteor Srike (Attack an opponent)
Tifa nâng đối thủ lên đỉnh đầu, rồi nhảy lên không trung. Cô ném đối thủ xuống phía dưới với một tốc độ khủng khiếp.

Level 4:

Final Heaven (Attack an opponent)
Tifa ở trong thế chuẩn bị đấm đối phương, ở tay của cô phát ra 1 nguồn năng lượng. Cô bất chợt chạy xuyên qua đối thủ với đòn đánh của mình, tạo ra 1 vụ nổ lớn ở phía đối thủ.[/b]

Nơi lấy: Đến Nibelheim từ Disc 2 trở đi và đánh cây đàn piano trong nhà Tifa theo bản nhạc sau: Do-Re-Mi-Ti-La-Do-Re-Mi-So-Fa-Do-Re-Do.

2.9. Cloud Strife

Job : Mercenary (ex-member of SOLDIER)
Age : 21
Weapon : Sword
Height : 173 cm
Birth Date : August 19
Birth Place : Nibelheim
Blood Type : AB

Nhân vật chính của Final Fantasy VII là kiểu mẫu nhân vật dũng cảm và kiên cường. Không còn là những hiệp sỹ hay những con người đại diện cho cái thiện nhận một sức mạnh linh thiêng nào đó như các phiên bản trước đây, Cloud hiện lên như một người bình thường và lạnh lùng. Có ước mơ hồi nhỏ mai sau sẽ trở thành một người như Sephiroth, Cloud luôn mong muốn mình trở nên mạnh mẽ. Cloud đi lính nhưng với chức vụ cảnh vệ thông thường. Sau một sự kiện khó hiểu từ năm năm về trước, Cloud trở thành một con người không có trí nhớ và biến thành một tên lính đánh thuê. Trong suốt quá trình chơi là những câu chuyện liên tục xoay quanh những sự việc của năm năm về trước với những mối liên quan tới thời điểm hiện tại, và đó là những móc nối để giải đáp toàn bộ thân thế của Cloud. Đây là một trong những phần hay nhất của cốt truyện Final Fantasy VII.

Limit Break

All enemies: 4 | One enemy: 3

Level 1:

1. Braver (Attacks one opponent)
Cloud nhảy lên trên không trung vào chém xuống đối thủ.

2. Cross-slash (Attacks and paralyzes one opponent)
Cloud chém đối phương theo chữ "kyou" (theo tiếng Nhật và dịch ra tiếng Anh nó nghĩa là "evil" hoặc "disaster").

Level 2:

1. Blade Beam (Diffuses after hitting one opponent)
Cloud chém kiếm xuống sàn đấu, tạo nên 1 luồng sáng màu xanh phóng về phía đối phương. Sau khi tiếp xúc với mục tiêu luồng sáng sẽ trải rộng ra gây sát thương cho đối thủ.

2. Climhazzard (Attacks one opponent)
Cloud đâm kiếm sâu vào ngực của đối thủ, sau đó nhẩy lên không trung với đường kiếm kéo dài từ dưới lên.

Level 3:

1. Meteorain (Attacks all opponents)
Cloud nhảy lên không trung và phóng xuống một loạt các mảnh thiên thạch tạo gây các sát thương liên tiếp trên các đối thủ.

2. Finishing Touch (Blows away all opponents)
Cloud dùng sức mạnh của mình kết hợp với thanh kiếm của anh ta tạo nên một cơn gió xoáy, nó sẽ lớn dần lên và lan rộng ra, cuốn hết các đối thủ vào đó. Nếu đối thủ có lượng HP thấp sẽ bị cuốn đi cùng cơn lốc, còn không đối thủ sẽ bị dính 1 lượng sát thương khá lớn.

Level 4:

Omnislash (Slices up all opponents)
Cloud lao vào chém đối phương với một liên hoàn chém, các đòn đánh có sức tấn công rất mạnh.

Nơi lấy: Bạn phải đạt được 32,000 điểm trong các trận đấu tại battle ở Gold Saucer để đổi lấy Limit Break cho Cloud.